Sức mạnh thật sự của một chế độ không nằm ở tốc độ tăng trưởng hay quy mô ngân sách, mà nằm ở cách chế độ ấy đối xử với những người đã hy sinh vì Tổ quốc. Tri ân người có công, vì thế, không đơn thuần là một chính sách an sinh xã hội, mà là minh chứng sinh động, thuyết phục nhất cho bản chất nhân văn của chủ nghĩa xã hội Việt Nam – chế độ lấy con người làm trung tâm, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển.
Nền tảng lý luận: từ chủ nghĩa Mác – Lênin đến tư tưởng Hồ Chí Minh
Chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết đặt con người vào vị trí trung tâm của tiến trình phát triển xã hội. C. Mác và Ph. Ăngghen khẳng định mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột, tạo điều kiện để mỗi cá nhân phát triển toàn diện trong một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Kế thừa tinh thần đó, V.I. Lênin nhấn mạnh Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải phục vụ lợi ích của đại đa số nhân dân lao động, hướng mọi thành quả phát triển tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.
Vận dụng sáng tạo những nguyên lý đó vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành tình cảm đặc biệt cho thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ. Người từng khẳng định: “Thương binh là những người đã hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, vì vậy Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy.” Với Người, chăm lo người có công không phải là hoạt động từ thiện nhất thời, mà là trách nhiệm của Nhà nước, là thước đo đạo đức cách mạng, là tình cảm thiêng liêng của cả dân tộc. Chính tinh thần ấy đã thôi thúc Người chỉ đạo tổ chức Ngày Thương binh toàn quốc 27/7/1947, ngay giữa những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp gian khó nhất, đặt nền móng cho cả một hệ thống chính sách ưu đãi người có công sau này.
Kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, qua các kỳ Đại hội, Đảng ta luôn xác định chăm lo người có công là trách nhiệm chính trị, đạo lý và tình cảm thiêng liêng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục khẳng định yêu cầu “lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của sự phát triển”, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng chính sách, chăm lo ngày càng tốt hơn đời sống Nhân dân. Đây không chỉ là một định hướng phát triển, mà còn là sự khẳng định bản chất ưu việt, nhân văn của chế độ.
Từ góc độ lý luận, có thể khẳng định: chính sách ưu đãi người có công không chỉ là một chính sách an sinh xã hội thông thường, mà còn là sự hiện thực hóa mục tiêu, bản chất và giá trị nhân văn của chủ nghĩa xã hội. Khi những người đã hy sinh vì độc lập dân tộc được tôn vinh, được bảo đảm quyền lợi và được chăm lo bằng cả trách nhiệm của Nhà nước lẫn tình cảm của cộng đồng, thì những giá trị nhân văn của chế độ không còn dừng lại ở tuyên ngôn chính trị, mà đã trở thành hiện thực sinh động trong đời sống xã hội – điều mà tôi luôn cố gắng giúp học viên cảm nhận được bằng những ví dụ cụ thể, chứ không chỉ bằng khái niệm trừu tượng.
Từ đạo lý dân tộc đến chính sách nhân văn của một chế độ
“Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây” là đạo lý ngàn đời của dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua lịch sử dựng nước và giữ nước. Nhưng trong chế độ xã hội chủ nghĩa, đạo lý ấy không dừng lại ở tình cảm hay những hoạt động mang tính tự phát, mà được Đảng, Nhà nước thể chế hóa thành chủ trương, chính sách và pháp luật. Đây chính là bước phát triển về chất – từ một giá trị đạo đức truyền thống trở thành trách nhiệm chính trị, pháp lý của cả hệ thống chính trị, thể hiện rõ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chính sách người có công thể hiện rất rõ quan điểm “lấy con người làm trung tâm” mà Văn kiện Đại hội XIV đã nêu. Nhà nước không chỉ bảo đảm trợ cấp hằng tháng mà còn thực hiện đồng bộ nhiều chính sách về chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, hỗ trợ nhà ở, đào tạo nghề, tạo việc làm, miễn giảm học phí cho thân nhân, ưu tiên tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Mục tiêu không chỉ là bảo đảm cuộc sống trước mắt, mà còn tạo điều kiện để người có công và gia đình họ ổn định, phát triển lâu dài.
Có ý kiến cho rằng ưu đãi người có công là sự “ưu tiên đặc biệt”, tạo khác biệt giữa các nhóm xã hội. Cách nhìn ấy là phiến diện. Công bằng xã hội trong chủ nghĩa xã hội không đồng nghĩa với cào bằng, mà là sự phân phối hợp lý trên cơ sở cống hiến. Những người có công đã đánh đổi tuổi trẻ, sức khỏe, hạnh phúc gia đình, thậm chí cả tính mạng để giành độc lập cho dân tộc; vì vậy, chính sách ưu đãi dành cho họ không phải “đặc quyền”, càng không phải “bao cấp”, mà là sự ghi nhận công bằng và đạo lý xã hội. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, Quỹ Đền ơn đáp nghĩa, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, tu bổ nghĩa trang liệt sĩ… đã trở thành nét đẹp văn hóa, thu hút sự tham gia của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, qua đó củng cố niềm tin của Nhân dân vào bản chất “của dân, do dân, vì dân” của Nhà nước ta.
Quảng Ninh – nơi lý luận trở thành hành động
Nghị quyết Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh xác định mục tiêu phát triển tỉnh theo hướng “giàu đẹp, văn minh, hiện đại; phát triển nhanh, bền vững; lấy người dân làm trung tâm, chủ thể của quá trình phát triển; kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân”. Đây là sự cụ thể hóa nhất quán đường lối của Đảng, đồng thời là cơ sở để tỉnh tiếp tục chăm lo tốt hơn các gia đình chính sách, người có công.
Cùng với việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nhóm dẫn đầu cả nước, Quảng Ninh luôn dành nguồn lực thích đáng cho công tác an sinh xã hội: thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ ưu đãi theo quy định của Trung ương; ban hành các chính sách hỗ trợ phù hợp điều kiện địa phương; tổ chức thăm hỏi, tặng quà nhân dịp lễ, Tết, Ngày Thương binh – Liệt sĩ; hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà ở; tổ chức điều dưỡng, khám sức khỏe; chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ và các công trình ghi công một cách thường xuyên, chu đáo.
Cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, lực lượng vũ trang, cộng đồng doanh nghiệp và đông đảo Nhân dân cùng tham gia phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” bằng những việc làm cụ thể: xây dựng nhà tình nghĩa, trao học bổng cho con em gia đình chính sách, nhận phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng. Đó là minh chứng sinh động cho phương châm phát triển của tỉnh: tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ, công bằng xã hội; mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả phát triển.
Việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 1/7/2025 đặt ra yêu cầu mới đối với công tác người có công: bộ máy cấp xã, phường phải trực tiếp đảm nhận nhiều phần việc trước đây thuộc cấp huyện, đòi hỏi đội ngũ cán bộ cơ sở nắm vững chính sách, tận tụy, sâu sát hơn với từng gia đình chính sách. Đây cũng chính làyêu cầu đặt ra để mô hình tổ chức mới không làm gián đoạn, mà tiếp tục nâng cao chất lượng phục vụ người có công.
Nhận diện và phản bác những luận điệu xuyên tạc
Một thủ đoạn quen thuộc của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị: cố tình đánh đồng những sai sót cá biệt trong giải quyết hồ sơ, sự chậm trễ ở một số địa phương với bản chất của cả hệ thống chính sách. Từ đó, họ đưa ra những nhận định sai lệch như “Nhà nước chỉ tuyên truyền mà không quan tâm người có công”, hoặc cho rằng chính sách ưu đãi là “gánh nặng ngân sách”.
Đây là cách lập luận phiến diện, thiếu cơ sở khoa học, cố tình bỏ qua những kết quả không thể phủ nhận mà Việt Nam đã đạt được trong gần 80 năm thực hiện chính sách ưu đãi người có công. Cần khẳng định rõ: không một chính sách xã hội nào trong quá trình triển khai lại không phát sinh khó khăn, vướng mắc. Điều quan trọng là Đảng và Nhà nước ta luôn nhìn thẳng vào hạn chế, kịp thời rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách, hoàn thiện pháp luật, tăng cường kiểm tra, giám sát để bảo đảm quyền lợi chính đáng của người có công. Chính tinh thần cầu thị, trách nhiệm đó – chứ không phải một sự hoàn hảo tuyệt đối – mới là thước đo thực chất của một chế độ thực sự vì Nhân dân.
Cách phản bác thuyết phục nhất không phải là những lời lẽ đao to búa lớn, mà là chỉ ra một cách hệ thống, có căn cứ: từ chủ trương của Đảng, đến việc thể chế hóa thành pháp luật, và cuối cùng là những kết quả cụ thể trong đời sống người có công. Khi lý luận, chính sách và thực tiễn thống nhất với nhau như vậy, mọi luận điệu xuyên tạc tự nó sẽ mất đi chỗ đứng.
Đôi điều suy nghĩ từ góc độ người giảng lý luận chính trị
Chính sách người có công không chỉ là truyền đạt kiến thức lý luận, mà còn là dịp để khơi dậy trong học viên – những cán bộ của hệ thống chính trị hôm nay và mai sau – tinh thần trách nhiệm và lòng biết ơn đối với thế hệ đi trước. Để chính sách này tiếp tục phát huy giá trị nhân văn trong giai đoạn mới, theo tôi cần chú trọng một số việc: quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về phát triển con người, an sinh xã hội trong từng bài giảng, từng chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý hồ sơ người có công để bảo đảm công khai, minh bạch, thuận tiện; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, doanh nghiệp và cộng đồng trong phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”; và đặc biệt, gắn giáo dục lý luận với giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ thông qua các hoạt động trải nghiệm thực tế – điều mà không trang giáo trình nào truyền tải trọn vẹn bằng một lần đến thăm nghĩa trang liệt sĩ hay trò chuyện cùng một Mẹ Việt Nam Anh hùng.
Kết luận
Tri ân người có công không chỉ là sự tiếp nối đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam, mà còn là minh chứng sinh động cho bản chất nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam – nơi mọi đường lối, chính sách đều hướng tới con người, vì con người và vì hạnh phúc của Nhân dân. Thực tiễn của đất nước và tỉnh Quảng Ninh đã và đang chứng minh: một chế độ thực sự nhân văn không được khẳng định bằng những tuyên ngôn chính trị, mà bằng khả năng biến giá trị nhân văn thành chính sách cụ thể, thành hành động thiết thực, thành cuộc sống tốt đẹp hơn cho những người đã cống hiến, hy sinh vì Tổ quốc.
ThS. Nguyễn Thế Vinh – Phòng QLĐT, Bồi dưỡng và NCKH






